Chủ nhật , Ngày 26/02/2012
Ngày 17/2/2012, tại TP.HCM, Báo Công Thương phối hợp với Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức hội thảo với chủ đề: “5 năm gia nhập WTO– Doanh nghiệp thương mại dịch vụ Việt Nam hội nhập và phát triển”.

Hơn 200 đại biểu tham dự hội thảo
CôngThương - Hội thảo đã thu hút hơn 200 đại biểu đến từ Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ Công Thương, các cơ quan quản lý nhà nước ở Trung ương và địa phương, các hiệp hội ngành hàng, nhiều doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh xuất nhập khẩu và dịch vụ…
Dưới sự chủ trì của Thứ trưởng Bộ Công Thương Trần Quốc Khánh - Trưởng đoàn đàm phán Chính phủ về hội nhập kinh tế quốc tế - hội thảo đã tập trung thảo luận những vấn đề đang được quan tâm như: phát triển thị trường bán lẻ Việt Nam, những vấn đề liên quan đến WTO cần hoàn thiện trong thời gian tới, một số vấn đề về kinh tế, tài chính sau 5 năm gia nhập WTO, nâng cao sức cạnh tranh của hàng hóa và dịch vụ Việt Nam ở thị trường trong nước và thế giới...
.jpg)
Thứ trưởng Bộ Công Thương Trần Quốc Khánh - Trưởng đoàn đàm phán Chính phủ về hội nhập kinh tế quốc tế
Tiến sĩ Võ Trí Thành- Phó Viện trưởng Viện quản lý kinh tế Trung ương - cho biết, sau khi gia nhập WTO, ngành thương mại dịch vụ Việt Nam đã có những bước tăng trưởng đáng kể và được tập trung chủ yếu vào lĩnh vực dịch vụ bán lẻ, du lịch và tài chính ngân hàng. Năm 2011, tỷ trọng của ngành dịch vụ chiếm 37,7% trong khi lao động chiếm 24%. Tuy nhiên, mặc dù mức tăng trưởng cao, nhưng ngành dịch vụ cũng cho thấy những con số đáng buồn. Cụ thể, thương mại dịch vụ tăng cao nhưng vì tốc độ tăng trưởng của thương mại hàng hóa cao hơn nên tỷ trọng thương mại dịch vụ giảm so với thương mại hàng hóa (từ mức 12,4% năm 2006, nay còn 11,4% năm 2011). Tuy nhiên, hiện nay, Việt Nam đang chịu thâm hụt dịch vụ lớn.

Tiến sĩ Võ Trí Thành- Phó Viện trưởng Viện quản lý kinh tế Trung ương
Còn trong lĩnh vực bán lẻ, tiến sĩ Đinh Thị Mỹ Loan- Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội các nhà bán lẻ Việt Nam- nhận định: mặc dù ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu nhưng ngành công nghiệp bán lẻ Việt Nam đã có những bước phát triển vượt bậc trong 5 năm qua. Chỉ tính riêng trong năm 2011, tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ đạt 90 tỷ USD, tăng 24,2% so với năm 2010 (nếu loại trừ yếu tố tăng giá thì mức tăng là 4,7%). Các doanh nghiệp đã nỗ lực mở rộng hệ thống bán lẻ và tăng chất lượng dịch vụ với nhiều loại hình phong phú. Đặc biệt, ngày càng có nhiều doanh nghiệp nước ngoài tham gia thị trường bán lẻ đã tạo nên một luồng gió mới, tạo ra sự cạnh tranh lành mạnh, đem lại nhiều lựa chọn hơn cho người tiêu dùng. Tuy nhiên, thị trường bán lẻ Việt Nam còn nhiều hạn chế như quy mô nhỏ, sức mua yếu; chủ yếu là bán lẻ truyền thống, trong khi bán lẻ hiện đại chỉ chiếm 20% (TP.HCM chiếm 40%, Hà Nội chiếm 13%). Doanh nghiệp có 4 điểm yếu cố hữu về tính chuyên nghiệp, chiến lược dài hạn, năng lực tài chính và logistics. Mặc dù vậy, ngành bán lẻ vẫn là tiềm năng trong tương lai nếu biết vượt qua những thách thức lớn là chuyển dịch từ quy mô, khái niệm, cấu trúc, hệ thống và tập quán kinh doanh truyền thống sang một ngành thương mại hiệu quả, năng suất cao, công nghệ hiện đại và hướng tới người tiêu dùng với triết lý kinh doanh “vì xã hội và cộng đồng!”.

Tổng biên tập Báo Công Thương Bùi Đức Khiêm phát biểu tại hội thảo
Trong khi đó, dịch vụ thị trường bảo hiểm Việt Nam cũng gặt hái được những thành công nhất định. Theo ông Phùng Đắc Lộc- Tổng thư ký Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam: Gia nhập WTO đã làm tăng nhu cầu bảo hiểm do đầu tư nước ngoài FDI, ODA hàng năm tăng, kinh tế xã hội phát triển, thu nhập bình quân tăng, xuất khẩu tăng, các ngành nghề phát triển. Nếu như doanh thu bảo hiểm phi nhân thọ năm 2006 đạt 6.445 tỷ đồng thì đến năm 2011 ước đạt 21.000 tỷ đồng, tăng 225%. Còn doanh thu bảo hiểm nhân thọ năm 2006 đạt 8.483 tỷ đồng, trong khi năm 2011 ước đạt 16.000 tỷ, tăng 89%. Ngày càng có nhiều doanh nghiệp và sản phẩm bảo hiểm hơn để khách hàng lựa chọn. Doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam cũng có nhiều cơ hội tìm đối tác chiến lược nước ngoài và có cơ hội vươn ra thị trường bảo hiểm thế giới. Ông Lộc cũng chỉ ra những hạn chế, như việc doanh nghiệp Việt Nam buộc phải cạnh tranh sòng phẳng với doanh nghiệp bảo hiểm có yếu tố nước ngoài hoạt động tại Việt Nam, nếu không đủ năng lực sẽ thua ngay trên sân nhà. Ngoài ra, doanh nghiệp đang hoạt động tại Việt Nam buộc phải cạnh tranh với doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài bán sản phẩm qua biên giới. Chẳng hạn, trong lĩnh vực bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu, do thói quen mua CIF và bán FOB nên hầu hết hàng hóa xuất nhập khẩu của Việt Nam đều được mua bảo hiểm tại nước ngoài, chỉ còn 1 phần nhỏ tỷ trọng có rủi ro cao hoặc nước ngoài tính phí cao thì mới mua bảo hiểm ở Việt Nam.
Đánh giá về lĩnh vực dịch vụ logistics sau khi gia nhập WTO, ông Đỗ Xuân Quang– Chủ tịch Hiệp hội Giao nhận kho vận Việt Nam (VIFFAS)- cho rằng, chính nhờ vận dụng các phương thức hợp tác đầu tư mới mang tính đột phá, ngày càng có nhiều doanh nghiệp tầm cỡ thế giới đến đầu tư, hợp tác liên doanh với Việt Nam xây dựng các hạ tầng cơ sở logistics theo chuẩn mực điều hành quốc tế. Minh chứng là đã có hơn 60 hãng tàu biển, 50 hãng hàng không quốc tế đang khai thác các tuyến vận tải kết nối Việt Nam với toàn cầu. Chính điều này khiến cho sản lượng hàng hóa qua cảng biển Việt Nam tăng từ 181 triệu tấn năm 2007 lên 286 triệu tấn năm 2011, lượng container từ 4,5 triệu TEU năm 2007 lên 7 triệu TEU năm 2011. Hàng không cũng tăng tương tự trong điều kiện kinh tế khủng hoảng. Về khung khổ pháp luật, bên cạnh NĐ 140/2007/ NĐ-CP thì một trong những đóng góp quan trọng trong việc cải tiến các thủ tục hành chính quốc gia vừa qua là đề án 30 và đặc biệt là đổi mới trong lĩnh vực hải quan cũng góp phần thúc đẩy logistics phát triển. Tuy nhiên, để thúc đẩy hơn nữa ngành dịch vụ logistics phát triển, theo ông Quang, cần một “bàn tay hữu hình” đủ mạnh để kết nối và kiến tạo ngành logistics trong giai đoạn tiếp theo. Thậm chí, cần phải xây dựng chương trình quốc gia về nguồn nhân lực logistics để có chiến lược đào tạo phù hợp và lâu dài nguồn nhân lực cho cán bộ cấp quản lý nhà nước, quản lý và điều hành tại doanh nghiệp, các nhà sản xuất, thương mại xuất nhập khẩu…
Thứ trưởng Trần Quốc Khánh khẳng định, đến thời điểm này, mặc dù chưa thể đánh giá hết những tác động của WTO mang lại, nhưng có thể khẳng định, các doanh nghiệp Việt Nam đã tự tin hơn rất nhiều sau những bỡ ngỡ, băn khoăn. Việc gia nhập WTO đã phát huy hiệu quả khi mà tỷ trọng tăng trưởng của ngành dịch vụ cao hơn tỷ trọng GDP của cả nước. Thứ trưởng cũng chỉ ra những hạn chế như việc nhập khẩu dịch vụ vẫn còn rất lớn gây bất lợi cho cán cân thương mại, giá trị gia tăng từ dịch vụ vẫn chưa được như mong đợi. Nguyên nhân là do vẫn còn những rào cản khiến mức độ cạnh tranh hạn chế; khả năng giám sát, quản lý của Việt Nam chưa đủ mạnh... Thời gian tới, Việt Nam tiếp tục đàm phán những điều khoản trong quá trình gia nhập WTO, trong đó cần lưu ý tối đa lợi ích của các doanh nghiệp. Bên cạnh đó, cần làm hài hòa môi trường thương mại dịch vụ, mở cửa WTO nhưng phải khắc phục những yếu kém tồn đọng, cân đối quyền lợi chính đáng của doanh nghiệp và người tiêu dùng.
Ông Nguyễn Việt Long - Phó Tổng giám đốc Tổng công ty CP dịch vụ kỹ thuật dầu khí Việt Nam (PTSC) Sau 5 năm gia nhập WTO, PTSC đã đạt được mức tăng trưởng đáng kể, từ 4.497 tỷ đồng năm 2006 tăng lên 26.000 tỷ đồng năm 2011. Các công ty trong lĩnh vực dầu khí nói chung đã phần nào chiếm lĩnh được thị trường trong nước, tuy nhiên, tỷ trọng lợi nhuận giữ lại tại Việt Nam chưa đáp ứng được kỳ vọng của doanh nghiệp cũng như của Chính phủ. Ví dụ, trong lĩnh vực tàu cho thuê, dù đã thống lĩnh 90% thị trường, nhưng năng lực thực sự của PTSC vẫn còn hạn chế bởi chỉ sở hữu 22 tàu trong khi vẫn phải thuê lại từ 25-30 tàu. Vì vậy, tỷ trọng gia tăng trong lĩnh vực này của PTSC chỉ là 30%. Trong thời gian tới, PTSC sẽ từng bước khắc phục khó khăn, đồng thời kiến nghị với Nhà nước hỗ trợ các chính sách, bảo hộ phù hợp với cam kết WTO nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh ngay tại thị trường nội địa. Ông Văn Đức Mười Tổng giám đốc Công ty Vissan Vissan đã từng bước vượt qua khó khăn để trở thành doanh nghiệp đi tiên phong trong lĩnh vực chế biến thực phẩm. Có được điều này là do Vissan đã nhận thức được những thử thách sẽ gặp phải khi Việt Nam gia nhập WTO với cơ chế thị trường cạnh tranh khốc liệt. Thời gian qua, Vissan rất chú trọng tập trung đầu tư cho hạ tầng thương mại, đổi mới công nghệ và mở rộng vùng nguyên liệu sản xuất, tổ chức lại bộ máy, phát huy tính sáng tạo, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm nhằm hướng đến công nghiệp hóa ngành thực phẩm. Chính có những bước đi vững chắc như vậy mà Vissan đã được nhiều hơn mất trong sân chơi WTO. |
Tác giả: Tuấn Anh- Thùy Dương (Báo Công Thương)

