Với người nước ngoài, việc tổ chức ngày Giỗ Tổ Tiên của nước quả là đặc biệt, chưa thấy có nước nào có trên thế giới. Các nước vẫn tổ chức ngày thành lập nước, tức ngày Quốc khánh, hoặc ngày Độc lập, hoặc tổ chức ngày sinh của Vua. Hoặc người theo đạo thì tổ chức ngày sinh của các vị khai sáng ra tôn giáo, hoặc ngày ra đời của tôn giáo. Nhưng tổ chức ngày Giỗ Tổ của quốc gia như ta thì có lẽ là có một không hai trên thế giới ngày nay.Từ chiều dài lịch sử văn hóa dân tộc...
Nhiều quốc gia cũng có những truyền thuyết về sự ra đời của quốc gia đó. Ở nước ta là truyền thuyết về vợ chồng ông bà Lạc Long Quân-Âu Cơ đẻ ra 100 trứng, để rồi sinh ra 100 người con là một truyền thuyết rất đặc sắc. Ông Lạc Long Quân là giống Rồng, bà Âu Cơ là giống Tiên. Bởi vậy nước ta mới có câu nói người Việt ta là "con Rồng cháu Tiên". Cũng theo truyền thuyết, 50 người con theo mẹ xuống biển, 49 người con theo cha lên núi, để lại người con trưởng làm vua nước Văn Lang. Vị con trưởng này của ông bà Lạc Long Quân-Âu Cơ chính là vị vua đầu tiên của triều đại 18 đời vua Hùng ở nước ta, còn gọi là thời Hồng Bàng, mà những ngày vừa qua, cả nước ta tưng bừng tổ chức ngày Giỗ Tổ.
Truyền thuyết 100 người con của ông bà Lạc Long Quân-Âu Cơ thật đặc sắc, vì nó cho thấy mọi người Việt Nam ta dường như đều là con em trong một nhà. Đến cách xưng hô của người Việt ta, dùng "anh, em, chú bác, cô gì,,," để gọi nhau, cũng chính là cách xưng hô trong gia đình. Ở Nhật cũng có cách xưng hô gần giống như ở nước ta, nhưng người ta dùng rất ít, chỉ trong những trường hợp đặc biệt thân mật. Nhưng ở nước ta, cách xưng hô đó rất phổ biến, những người lần đầu tiên gặp nhau, cũng có thể gọi nhau là anh em, chú-cháu được. Phải chăng cách xưng hô như người trong một nhà này đã bắt đầu từ truyền thuyết 100 trứng-100 người con do ông bà Lạc Long Quân-Âu Cơ sinh ra nêu trên?
Nước Việt Nam ta không có những công trình văn hóa đồ sộ cống hiến cho thế giới. Chúng ta không có Vạn Lý Trường Thành như Trung Quốc, không có các Kim Tự Tháp như ở Ai Cập, không có truyền thuyết Olympia như của Hilạp, không có môn võ Judo, hoặc nghệ thuật cắm hoa nổi tiếng như ở Nhật. Nước ta cũng chưa có các nhà văn hóa, khoa học nổi tiếng thế giới, như Leonardo Da Vinci của Italia, như Honoré De Balzac của Pháp, như Charles Dicken của Anh.
Nhưng nước ta có một giá trị văn hóa khác để cống hiến cho nền văn hóa thế giới, đó là tinh thần đoàn kết, yêu thương lẫn nhau. Trên thế giới không có vị lãnh tụ nào được nhân dân trìu mến gọi là Bác như Bác Hồ của chúng ta. Tấm lòng yêu thương của Bác Hồ đối với nhân dân cũng thật hiếm có. Một sinh viên Nhật học tiếng Việt đã làm luận văn tốt nghiệp về Bác Hồ, vì em sinh viên này muốn lý giải vì sao Bác Hồ được nhân dân Việt Nam yêu mến, kính trọng như thế.

Ngày nay, cứ vào ngày 10 - 03 hàng năm, người dân cả nước lại hội tụ về Phú Thọ nô nức đi Giỗ Quốc tổ
Vào đời nhà Trần, vua Trần Thánh Tông nổi tiếng là một vị vua hiền, nối tiếp được cái truyền thống nhân hòa của "con Rồng cháu Tiên". Vua từng nói: "Thiên hạ là thiên hạ của tổ tông, người nối nghiệp tổ tông phải cùng hưởng phú quý với anh em trong họ". Vua thường cùng ăn uống với các vương hầu, tôn thất. Hôm nào trời tối, không về được, thì "xếp gối dài, trải khăn rộng, kê giường liền cùng ngủ với nhauđể tỏ hết lòng yêu quý nhau".
Bộ Đại Việt sử ký toàn thư cũng chép rằng thỉnh thoảng vua Trần Thánh Tông đi chơi ở bên ngoài, "hễ gặp gia đồng của vương hầu tôn thất thì gọi tên chúng mà hỏi: "Chủ mày ở đâu?", rồi răn các vệ sĩ không được thét đuổi. Đến khi về cung, bảo tả hữu rằng: " Ngày thường thì có thị vệ, tả hữu, khi quốc gia lâm hoạn nạn thì chỉ có bọn chúng đó thôi có mặt".
Khi chiến tranh lần thứ nhất với quân Nguyên kết thúc thắng lợi, quân sĩ bắt được một hòm biểu xin hàng của những người Việt ta hèn nhát xin hàng quân Nguyên khi thế giặc đang to. Thượng hoàng Trần Nhân Tông, cha của vua Trần Thánh Tông liền "sai đốt hết đi để làm yên lòng những kẻ phản trắc".
Trên thế giới, hiếm có quốc gia nào có thể đối xử khoan hòa với những người một thời lầm lỗi như trong lịch sử nước ta đã từng có.
Đến thời nhà Lê, vua Lê Lợi sau khi đánh thắng quân Minh, cũng đã có nhiều quân thần đề nghị vua trả thù quân Minh, giết hết tù binh đi. Vì quân Minh khi đô hộ nước ta, đã gây nhiều tội ác tàn bạo với nhân dân ta. Nhưng vua Lê Lợi đã trả lời rằng: "Trả thù báo oán là thường tình của mọi người, nhưng không thích giết người là bản tâm của người nhân đức. Vả lại, người ta đã hàng mà mình lại giết đi thì là điều xấu không gì lớn bằng." Chính vì vậy mà vua Lê Lợi đã sai cấp cho hàng quân Minh hơn 500 chiếc thuyền, hơn 2 vạn con ngựa, lương thảo để tha cho về nước.
Tiếng thơm về lòng nhân đạo của người Việt Nam ta từ thời vua Lê Lợi đến giờ vẫn được người Trung Quốc ghi nhận.
...đến vị anh hùng dân tộc Lê Lợi – niềm tự hào của con dân xứ Thanh
Lê Lợi sinh ngày 10-9-1385 (6-8 năm ất Sửu) tại Lam Sơn (Kẻ Cham), nay thuộc huyện Thọ Xuân, Thanh Hóa, trong một gia đình "đời đời làm quân trưởng một phương". Ông là con út của Lê Khoáng và Trịnh Thị Ngọc Hương (anh lớn của ông tên Học, anh thứ là Trư). Ông nối nghiệp cha làm chúa trại Lam Sơn. Khi quân Minh chiếm đất nước, ông nuôi chí lớn đánh đuổi xâm lăng. Quân nhà Minh nghe tiếng ông, dụ cho làm quan, ông không chịu khuất. Ông nói: "Làm trai nên giúp nạn lớn, lập công to, để tiếng thơm muôn đời, chớ sao lại chịu bo bo làm đầy tớ người?". Năm Lê Lợi 21 tuổi cũng là năm nhà Minh đem 80 vạn quân sang xâm lược nước Việt. Cuộc kháng chiến chống Minh của vương triều Hồ thất bại, nước Đại Việt rơi vào ách thống trị tàn bạo của giặc Minh. Trước cảnh đất nước bị kẻ thù giày xéo, tàn phá, Lê Lợi đã nung nấu một quyết tâm đánh đuổi chúng ra khỏi bờ cõi.

Đầu năm 1416, tại núi rừng Lam Sơn trên đất Thanh Hóa, Lê Lợi cùng với 18 người bạn thân thiết, đồng tâm cứu nước đã làm lễ thề đánh giặc giữ yên quê hương. Đó là hội Thề Lũng Nhai đã đi vào sử sách.
Tin Lê Lợi dựng cờ nghĩa, chiêu mộ hiền tài bay xa, thu hút các anh hùng hào kiệt từ bốn phương kéo về. Đất Lam Sơn trở thành nơi tụ nghĩa. ở đó có đủ các tầng lớp xã hội và thành phần dân tộc khác nhau, với những đại biểu ưu tú như: Nguyễn Trãi, Trần Nguyên Hãn, Nguyễn Chích, Nguyễn Xí, Lê Lai, Cầm Quý, Xa Khả Tham... Sau một thời gian chuẩn bị chín muồi, đầu năm 1418, Lê Lợi xưng là Bình Định Vương, truyền hịch đi khắp nơi, kêu gọi nhân dân đứng lên đánh giặc cứu nước. Lê Lợi là linh hồn, là lãnh tụ tối cao của cuộc khởi nghĩa ấy.
Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn từ mở đầu tới kết thúc thắng lợi (tháng 12-1427), qua các giai đoạn phát triển và chiến lược, chiến thuật của nó đã chứng minh Lê Lợi là người có tầm vóc của một thiên tài, một nhân cách vĩ đại, chỉ thấy ở những lãnh tụ mở đường, khai sáng. Nếu Ngô Quyền với chiến thắng trên sông Bạch Đằng năm 938 đã chấm dứt thời kỳ 1.000 năm mất nước, mở đầu thời kỳ độc lập mới của dân tộc thì Lê Lợi với cuộc khởi nghĩa Lam Sơn toàn thắng, kết thúc 20 năm thống trị của giặc Minh, khôi phục nền độc lập lâu dài cho Tổ quốc, bắt đầu một kỷ nguyên xây dựng mới. Không có Lê Lợi, không có phong trào khởi nghĩa Lam Sơn. Nhưng Lê Lợi không chỉ là người nhen nhóm, tạo lập ra tổ chức khởi nghĩa Lam Sơn mà ông còn là nhà chỉ đạo chiến lược kiệt xuất. Một nét đặc sắc, mới mẻ trong đường lối chỉ đạo cuộc kháng chiến chống Minh mà Lê Lợi thực hiện là dựa vào nhân dân để tiến hành chiến tranh giải phóng dân tộc. Nhìn vào lực lượng nghĩa binh và bộ chỉ huy, tướng lĩnh của cuộc khởi nghĩa, có thể thấy rõ tính chất nhân dân rộng rãi của nó, một đặc điểm nổi bật không có ở các cuộc khởi nghĩa khác chống Minh trước đó. Dựa vào sức mạnh của nhân dân, đoàn kết, tập hợp mọi lực lượng xã hội trong một tổ chức chiến đấu, rồi từ cuộc khởi nghĩa ở một địa phương, lấy núi rừng làm căn cứ địa, phát triển sâu rộng thành cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc trên quy mô toàn quốc. Đây là một cống hiến sáng tạo to lớn về đường lối chiến tranh của Lê Lợi và bộ tham mưu của ông, để lại một kinh nghiệm lịch sử quý giá.
Vừa là nhà tổ chức và chỉ đạo chiến lược về chính trị, quân sự, vừa là vị tướng cầm quân mưu trí, quả quyết, Lê Lợi đã vận dụng lối đánh "vây thành diệt viện" theo lý thuyết quân sự ông nghiền ngẫm: Đánh thành là hạ sách. Ta đánh thành kiên cố hàng năm, hàng tháng không lấy được, quân ta sức mỏi, khí nhụt, nếu viện binh giặc lại đến thì ta đằng trước, đằng sau đều bị giặc đánh, đó là đường nguy. Chi bằng nuôi sức khỏe, chứa khí hăng để đợi quân cứu viện tới. Khi viện binh bị phá thì thành tất phải hàng". Chiến thuật "Vây thành diệt viện" của Lê Lợi kết hợp với chủ trương "mưu phạt nhị tâm công", uy hiếp, phân hóa, chiêu dụ địch của Nguyễn Trãi tạo nên một phương thức độc đáo trong nghệ thuật quân sự Việt Nam.
Cuộc vây hãm Vương Thông ở Đông Quan và tiêu diệt viện binh giặc tại Chi Lăng, Xương Giang cuối năm 1427 là kết quả thắng lợi của tư tưởng quân sự của Lê Lợi - Nguyễn Trãi. Sau khi đuổi hết giặc Minh về nước, Lê Lợi lên ngôi hoàng đế năm 1428, sáng lập ra vương triều Lê. Lê Lợi làm vua được 5 năm thì mất (1433), an táng tại Vĩnh Lăng, Lam Sơn, miếu hiệu là Thái Tổ.
Trong sự nghiệp xây dựng đất nước buổi đầu của vương triều Lê, Lê Lợi đã có những cố gắng không nhỏ về nội trị, ngoại giao, nhằm phục hồi, củng cố, phát triển đất nước trên mọi mặt, như tổ chức lại bộ máy chính quyền từ trung ương xuống địa phương; ban hành một số chính sách kèm theo những biện pháp có hiệu quả để khôi phục sản xuất nông nghiệp, ổn định đời sống xã hội. Lê Lợi cũng chú ý tới việc phát triển văn hóa, giáo dục, đào tạo nhân tài. Năm 1428, lên ngôi vua, năm sau (niên hiệu Thuận Thiên thứ 2, 1429), Lê Lợi đã cho mở khoa thi Minh Kinh. Năm 1431, thi khoa Hoành từ. Năm 1433, Lê Lợi đích thân ra thi văn sách. Đấy là chưa kể năm 1426 trong khi đang vây đánh Đông Quan, Lê Lợi đã mở một khoa thi đặc cách lấy đỗ 32 người, trong đó có Đào Công Soạn, một nhà ngoại giao xuất sắc thời Lê Lợi. Nhưng, nhiệm vụ chính trị lớn nhất phải quan tâm giải quyết hàng đầu sau khi đất nước được giải phóng là việc tăng cường củng cố, giữ vững nền độc lập, thống nhất của Tổ quốc. Về phương diện này, Lê Lợi đã làm được hai việc có ý nghĩa lịch sử. Thứ nhất, ông đã thành công trong cuộc đấu tranh ngoại giao, thiết lập quan hệ bình thường giữa triều Lê và triều Minh. Thứ hai, Lê Lợi đã kiên quyết đập tan những âm mưu và hành động bạo loạn muốn cát cứ của một số ngụy quân trước, điển hình là vụ Đèo Cát Hãn ở Mường Lễ, Lai Châu. Trong bài thơ làm khắc vào vách đá núi Pú Huổi Chò (bên sông Đà, thuộc Lai Châu) năm 1431 khi đánh Đèo Cát Hãn, Lê Lợi đã nói rõ ý chí bảo vệ sự thống nhất giang sơn:
Đất hiểm trở từ nay không còn,
Núi sông đã vào chung một bản đồ.
Đề thơ khắc vào núi đá
Trấn giữ miền Tây của nước Việt ta.

Đại lộ Lê Lợi, con đường mang tên người anh hùng dân tộc hiện nay là cửa ngỏ trung tâm của Tp. Thanh Hóa
Các giá trị văn hóa đoàn kết, yêu thương nhau của người Việt Nam ta cần được khôi phục và bảo vệ. Việc nước là việc chung của mọi người, của tất cả nhân dân, của tất cả những người có tài, có đức, chứ không phải là của riêng ai. Chỉ có khi nào làm được như vậy, thì các giá trị truyền thống của ngày Giỗ Tổ mới được thực sự phát huy và có ý nghĩa.
Tổng hợp thông tin
- 23/09/2010 16:08 - Hệ thống trường mầm non Nam Mỹ tổ chức trung thu cho thiếu nhi
- 22/09/2010 11:14 - Đêm tiệc khai trương Eleganz tại Tp.HCM
- 13/09/2010 17:16 - Chúc mừng Eleganz Vietnam khai trương showroom đầu tiên tại Tp.HCM
- 10/09/2010 09:24 - Thiên Đô Land khai trương sàn giao dịch số 2
- 27/08/2010 15:28 - Tôn vinh 200 Sao Vàng đất Việt 2010
- 23/08/2010 14:31 - TS. Nguyễn Thị Lan và thơ

















